NÉT XUÂN TRONG DI SẢN VĂN HÓA DÂN TỘC

Chuyên mục: Tin tức - Sự kiện 7 0
Từ xa xưa, ông cha ta đã từng ngẫu hứng sáng tác và truyền miệng từ đời này sang đời khác những câu hát dân ca làm say đắm lòng người, những tập tục sinh hoạt cộng đồng trở thành lễ hội dân gian, truyền thống, góp phần không nhỏ trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc. Di sản đó đều bắt nguồn từ lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa tinh thần của mọi người dân. Có câu hát bắt nguồn từ lao động ngành nghề như: phường vải, phường nón, phường đan…Có câu hát lại bắt nguồn từ lao động nông nghiệp như: phường cấy, phường gặt, phường củi…Khi làm việc nặng nhọc, lại có câu hát kích thích người lao động như: hò chèo thuyền, hò kéo gỗ, hò bẩy đá…Trong lễ hội cũng vậy, có lễ hội cầu mưa, lễ hội xuống đồng, lễ hội mừng nhà mới, lễ hội mừng được mùa…Bên cạnh đó lại có lễ hội tưởng nhớ công ơn người đã khuất, lễ hội lịch sử và cách mạng…Trong phạm vi bài viết này xin dưới hạn bàn về “nét xuân trong di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc”.
nét xuân
Mùa xuân là mùa đặc biệt đối với mỗi người dân Việt Nam. Mùa xuân gắn với tết cổ truyền dân tộc (gọi là Tết Nguyên đán), đây là lễ hội lớn nhất trong năm, được tổ chức từ đầu năm âm lịch. Lễ hội này có ảnh hưởng rất lớn đến tâm tư, tình cảm của mỗi người dân đất Việt, kể cả đồng bào các dân tộc thiểu số, mặc dù họ đã có ngày tết riêng, nhưng tết cổ truyền dân tộc đối với họ cũng rất thiêng liêng. Ba ngày tết là dịp để sum họp gia đình, gặp gỡ bạn bè, người thân. Truyền thống của người Việt Nam là như vậy, quanh năm vất vả làm ăn mỗi người một nơi, nếu có gặp nhau cũng chưa gọi là sum họp, chỉ có 3 ngày tết mới gọi là sum họp gia đình.
Mùa xuân lại là mùa đẹp nhất trong năm, tiết trời ấm áp, se lạnh, cây cối đâm chồi, nẩy lộc, con người như được trải lòng với thiên nhiên, những câu thơ hay, giai điệu âm nhạc đẹp cũng bắt đầu xuất hiện, nhất là những câu hát dân ca, những lễ hội dân gian truyền thống cũng mang đầy chất xuân.
Ai đã từng đến với Hội Lim, nghe hát dân ca Quan Họ, sẽ thấy mùa xuân đầy ắp trong không gian lễ hội, nét xuân phơi phới trong những câu hát Quan Họ trên đồi, hát sau chùa, hát trên thuyền, hát trong nhà…Và có thể nghe hát đôi từng cặp (đôi nam, đôi nữ) hoặc “bọn” nam, “bọn” nữ. (mỗi “ bọn” có khoảng 4,5,6 người). Hội Lim là một lễ hội lớn đầu xuân vùng Kinh Bắc, được tổ chức trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Hội Lim được mở từ ngày 12 đến ngày 14 tháng giêng Âm lịch hàng năm. Theo lịch sử của vùng đất này, Hội Lim đã hình thành cách ngày nay khoảng 300 năm. Hội Lim có nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, nhưng hoạt động chính vẫn là hát dân ca Quan Họ đầu xuân. Nhiều bài hát dân ca Quan Họ được ra đời từ đây, thông qua tục hát đối đáp  cặp đôi (đôi nam, đôi nữ), hoặc “bọn” nam, “bọn” nữ. Dân ca Quan Họ Bắc Ninh đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2009.
Gần đây nhất, ngày 24 tháng 11 năm 2011, Hát Xoan Phú Thọ cũng được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.
Hát Xoan còn có tên là “khúc môn đình”, là lối hát thờ thần, có từ thời các vua Hùng. Đây là loại hình dân ca nghi lễ, phong tục gắn với hội mùa, thờ Thành hoàng, giống như hát dặm, hát dô ở đồng bằng sông Hồng. Ngày xưa, người Văn Lang thường tổ chức các cuộc Hát Xoan vào mùa xuân để đón chào năm mới, không chỉ để vui chơi mà còn để cầu trời cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tốt tươi. Hát Xoan gắn với lễ hội, với nhu cầu tâm linh. Hát Xoan là hát xuân (chữ Xoan là chữ xuân được đọc trại ra), được lưu truyền rộng rãi trong dân chúng. Hàng năm vào mùa xuân, các phường Xoan Phú Đức, Kim Đôi, An Thái thuộc Phù Ninh thường tổ chức hát ở cửa đình những ngày hội đám, hết hội đám lại chia nhau đi hát ở các địa phương trong và ngoài tỉnh Phú Thọ. Hát Xoan thật đậm đà nét xuân, vì Hát Xoan là hát xuân và thường hát giữa mùa xuân.
Đối với Ca Trù cũng vậy, chúng ta có thể thấy rằng đây là một thể loại âm nhạc rất đặc biệt trong nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam, đã tồn tại hàng ngàn năm với ngôn ngữ thi ca, diễn xướng thật độc đáo trong đời sống văn hóa tinh thần của mọi người dân. Mặc dù đã có lúc mai một tưởng chừng bị mất đi theo thời gian năm, tháng. Nhưng từ khi được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp (30-9-2009), Ca Trù lại được thổi hồn bằng một luồng gió mới. Luồng gió ấy đã thổi bùng ngọn lửa âm ỉ hàng ngàn năm, để hôm nay sức sống ấy của Ca Trù không phải chỉ ở mỗi làng, mỗi xóm, mỗi câu lạc bộ ở làng quê hay chốn thị thành, mà đang là sức sống nghệ thuật của cả dân tộc Việt Nam.
Chắc chắn mùa xuân này, ở các tỉnh, thành phố: Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Nghệ An, Hà Tĩnh…Tiếng hát mềm mại, bay bổng của ca nương, những điệu múa bài bông, múa tứ linh, tiếng bổng tiếng trầm của âm thanh đàn đáy, tiếng tom, tiếng chát của trống chầu lại vang lên ở mỗi cửa đình trong ngày hội xuân và ở mỗi câu lạc bộ Ca Trù sẽ làm say đắm lòng người.
Bên cạnh những di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể đại diễn của nhân loại và di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, nét xuân còn rực rỡ trong dân ca các vùng miền, là những di sản đang được trình và chuẩn bị lập hồ sơ để trình UNESCO công nhận là di sản thế giới.
Đó là Đờn ca Tài tử ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Bạn tôi kể rằng: một số tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong 3 ngày tết của mỗi gia đình, ngày mồng 2 tết là ngày quan trọng nhất, tất cả mọi người trong dòng họ tụ tập tại nhà cậu thứ tư (là nhà hương hỏa thờ ông bà), để vừa vui xuân vừa dự buổi hòa nhạc theo phong cách Đờn ca Tài tử. Đặc biệt ngày hôm đó không chỉ bà con lối xóm mà cả người hâm mộ ở các làng lân cận cũng đều tụ tập về đây để thưởng thức âm nhạc.
Đơn ca Tài tử được hình thành vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 ở Nam Bộ. Đơn ca tài tử có ảnh hưởng âm nhạc truyền thống của miền Trung, nhưng khi vào đến miền Nam thì tiếng đàn miền Trung đã thay đổi rất nhiều, mang đầy đủ chất phóng khoáng của con người và nếp sống miền Nam.
Buổi “khai đờn”long trọng trong ngày mồng hai tết hàng năm, tựa như văn nhân “khai bút” hay nhà nông “khai canh”, chính là nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Hát bài chòi ở Quảng Nam cũng vậy, cái tên chòi xuất phát từ hình thức chơi, những người chơi bài ngồi trong 8 hay 10 cái chòi chia thành hai hàng đối nhau, ở một đầu giữa hai hàng chòi là chòi hiệu. Mái chòi thường làm bằng tre, được trang trí rất đẹp, trên móc mỗi chòi đều cắm cờ hiệu. Trong mỗi chòi đều có ghế tre để ngồi và treo một chiếc đèn lồng được làm rất cầu kỳ. Các câu hát được sử dụng trong hội bài chòi ngày xuân thường nói về tình yêu quê hương, đất nước, ca ngợi tình phụ mẫu, , tình phu thê thủy chung, đề cao những phẩm chất tốt đẹp, phê phán những tệ nạn xã hội, những tập tục lạc hậu…
Sáng mồng 1 tết người ta bắt đầu khai hội bài chòi. Những cụ già có vai vế trong làng làm lễ cúng thần linh, thổ địa, thành hoàng…Cầu cho một năm mới gặp nhiều điều an lành, mùa màng bội thu, làng xóm trù phú. Tiếp đó tiếng trống hội vang lên báo hiệu và thôi thúc dân làng đến chơi và nghe hô hát bài chòi, với những câu như sau:
“Bài chòi mở hội đầu xuân
Hội vui đón tết, hội mừng non sông
Vui chơi cho phỉ tấm lòng
Chờ 12 tháng nữa mới mong tựu tề”
Người chơi bài chòi không phải tính chuyện ăn thua, mà chơi cho “vui vẻ trong 3 ngày tết”, để được thưởng thức nghệ thuật, để được đắm mình trong một trò chơi dân gian thật hấp dẫn, hấp dẫn đến lạ kỳ.
Và đây, Hát Then xứ Lạng. mỗi khi tết đến xuân về, khắp nơi tưng bừng mở hội. Đến với hội xuân xứ Lạng, mê nhất là được nghe Hát Then. Then là một hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Tày, ra đời trong dân gian, gắn với đời sống của dân gian nên lời hát then là sự phản ánh chân thực cuộc sống của người dân miền núi, trước hết là môi trường tự nhiên, xã hội của người Tày. Then cũng gắn liền và có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người Tày. Trong lễ cấp sắc của người Tày, lễ cầu an đầu năm, lễ chúc thọ cha mẹ…Then là hình thức cơ bản để phản ánh tâm tư, nguyện vọng, những mong muốn rất giản dị của người nông dân. Hát Then có giá trị văn hóa đặc sắc như vậy, cho nên những năm gần đây, xứ Lạng đã dấy lên phong trào Hát Then trong lực lượng văn nghệ quần chúng. Đã tổ chức được nhiều cuộc liên hoan, cuộc thi, ngày lễ, ngày hội, các chương trình ca nhạc…đều có các tiết mục Hát Then, thậm chí có những cuộc chủ yếu thi hát then. Phong trào dạy và học hát then bằng hình thức truyền dạy đã được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng, nhất là lớp trẻ.
Hy vọng Hát Then sẽ được bảo tồn, gìn giữ và phát huy trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc. Hát Then cũng như một số di sản văn hóa phi vật thể khác, sẽ được quan tâm đúng mức, giống như các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO cộng nhận là di sản thế giới.
Nét xuân trong di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc là như vậy. Mùa xuân này, cầu chúc cho mọi người có nhiều niềm vui mới khi đến với di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc Việt Nam.
Nhạc sỹ Hồ Hữu Thới

Related Articles

Add Comment