Chủ nhật, 20 Tháng 8 2017
Trang chủ DSVH Việt Nam Di sản phi vật thể Hà Nội xưa - Lãng đãng hồn phố, tình người


Hà Nội xưa - Lãng đãng hồn phố, tình người PDF. In Email
Thứ ba, 12 Tháng 10 2010 10:59

Bất chợt một ngày tiết trời mang mang không mưa không nắng, nghe hàng cây trên đường phố xao động như vừa đón hồn từ muôn nẻo xa xăm trở về, lại cũng nghe như từ mái chiếc quán vắng nào đã có ai ngửa chiếc chén ra chờ ta ghé vào nhấp môi niềm thi vị... thế là phải khoác chiếc áo sờn vai ra đường, đi lang thang qua bao ngã tư chẳng cần nhớ nổi, rồi gặp cây hoa gạo bên bờ Hồ Gươm nở bung những chấm son để khuyên vào bầu trời ai vừa khai bút những bài thơ non nước thiên nhiên... Ta đi qua những con phố quanh co, lang thang trong phố cổ, nghe dĩ vãng đầy hoài niệm lãng đãng trong hồn ta.

Phố Hàng Ngang từng có món gì, mặt hàng gì tên là “Ngang” không nhỉ, hay chỉ có người nói ngang, thói ngang tàng, con đường xuyên ngang? À mà có. Có món rượu ngang, tức rượu cuốc lủi phổ biến ở mọi làng quê, phố thị làm say sưa bao người, ai cũng có thể hoá thi tửu Lý Bạch hay ít ra thành cụ Tản Đà muốn đào nền nhà lát gạch lên mà trồng rau húng Láng để nhâm nhi với cái “ngang” êm đềm ấy. Nhưng hình như mặt phố này hoàn toàn tỉnh táo, tỉnh táo đến lạnh lùng trong mua bán giao tiếp. Lịch sử còn ghi lại trên nhiều cánh cửa bức bàn và những mái ngói lô nhô cùng những cửa hàng là mặt tiền những ngôi nhà hình ống, hẹp ngang nhưng sâu hun hút đầy bí mật. 

    pho_hang_ngang_chuan
                       Phố Hàng Ngang xưa

Vài ba thế kỷ trước, từ thời Phạm Đình Hổ còn ngôi nhà mình ở Phương Hà Khẩu, tức Hàng Buồm ngày nay, ông đã ghi lại: Thăng Long có phố người Trung Hoa, mà lúc ấy mọi người Trung Hoa, dù ở Quảng Đông hay Phúc Kiến... đều được gọi là người Đường, tức Đường Nhân (giống như ngày nay chúng ta quen gọi mọi người Châu Âu từ Pháp, Anh, Mỹ đến Nga, Bỉ... đều là Tây). Khi người Pháp ổn định Hà Nội, gọi là phố Người Quảng Đông (Rue du Cantonnaise), lâu dần chữ ấy đọc chệch ra thành Hàng Ngang.

Người ở phố Hàng Ngang xưa có nghề nhuộm tinh xảo. Các cô gái muốn làm đỏm bằng vuông yếm sáng, cái thắt lưng hoa lý, hồ thủy, tấm áo màu thiên thanh, chiếc quai nón tím hững hờ... thường phải về đây thuê nhuộm. Ở đây chuyên nhuộm loại màu mang sắc thái thanh thoát, mát nhẹ, nên còn có tên là phố Hàng Lam. Những tấm gấm màu lam, màu xanh dương, màu lá cây... các đại gia, công tử, nho sinh, thầy đồ, cụ túc nho… cũng ưa màu lam từ phố này mà ra.

Nếu phố Hàng Lam chuyên nhuộm màu thanh nhạt, tươi mát, thì hàng xóm của nó lại có nghề nhuộm những màu tưng bừng, ấm nóng, tươi đỏ, nên có tên là phố Hàng Đào (tên chữ là phường Thái Cực). Các cô gái có chiếc yếm thắm đã hớp hồn trai trẻ nhiều trăm năm. Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã nhắc đến cái yếm đào trễ tràng khi cô gái ngủ ngày, làm mê mẩn sĩ tử, thi nhân: “Đi thì cũng dở, ở không xong”. Bởi vì, cái yếm đào kia “trễ xuống dưới nương long”, mà làn da trinh bạch cứ phau phau trắng ngần như bãi cát non mùa xuân chưa bước chân nào đụng đến, thêm nữa còn có “Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm. Một lạch đào nguyên suối chửa thông”... Yếm đào là một thứ áo hớ hênh tinh nghịch, nó nửa che kín, nửa chểnh mảng để cuộc đời phải hồi hộp, thầm ao ước khôn nguôi!... Nếu ai muốn có những màu khác bình dị hơn phải nhuộm ở nơi khác. Vải đen nhuộm ở phố Hàng Vải Thâm gần đó. Làng Đồng Lầm (Cửa ô Kim Liên ngày nay) chuyên nhuộm màu nâu, màu quê dân dã nghìn năm mộc mạc, gắn bó với người nghèo và cả người rời bỏ cuộc đời tục lụy tìm đến cửa Phật mà giải thoát tâm linh.

Hàng Gai ngày nay là phố tơ lụa xuất khẩu tại chỗ. Tên có chữ “Gai” nghĩa là gì? Phố Hàng Bè, phố Gia Ngư nguyên là đất gần kề bờ sông Hồng, cũng là ven hồ Thái Cực, tức hồ Hàng Đào. Người dân quanh vùng này sống bằng nghề đánh cá, chài lưới, vì thế họ phải đến phố Hàng Gai mua những sợi gai đánh thành từng con (hơi giống những con chỉ thêu) để về đan lưới vá chài. Đến những năm 50 thế kỷ XX, phố Hàng Gai vẫn còn nhiều nhà treo lưới và gai ra cửa bày hàng. 

Còn phố Hàng Bè nằm ngay trên bờ sông, số nhà 15 có một hiệu buôn cau lớn, nổi tiếng. Đó là nhà bà vợ ông Nguyễn Trường Tam, nhà văn lừng danh Nhất Linh trong nhóm Tự lực văn đoàn, sau là một Lãnh tụ Quốc dân Đảng và đã tự vẫn ở Sài Gòn khi chính quyền Ngô Đình Diệm định đưa ông ra toà xử về tội chống đối chế độ Ngụy quyền... Những chiếc cổng tò vò, những mái ngói chồng diêm, nhưng khung cửa sổ chỉ là vài ba viên gạch đứng của Hàng Bè, Cầu Gỗ, Hàng Buồm... đã chứng kiến bao mùa xuân, mùa thu Hà Nội? Nghệ sĩ kịch nói Dương Quảng đã ra đi, ông có bao giờ về lại ngôi nhà 11 phố Mã Mây cong cong như nửa vầng trăng nối với hàng Buồm?...

  Hang_be_001
                             Phố Hàng Bè xưa

Hàng Cân là phố cổ, còn đó đình chùa, ngay ngoài đường còn tượng ông Thiện, ông ác đắp nổi, mỗi lần ta đi qua, ta ngắm nghía lại thấy như ngôi chùa làng xa hiển hiện, nói cách khác, một Hà Nội nghìn xưa có làng có ngõ, có chùa chiền... giống như đầu phố Bà Triệu có đình đền và chùa Vũ Thạch, vào ngõ sâu lạ mở ra một không gian hương khói, tòa ngang dãy dọc bất ngờ.

Phố Hàng Cá ăn từ phố Nguyễn Siêu sang, qua ngã tư Hàng Đường, Hàng Ngang. Hàng xóm của phố Hàng Cá là phố Hàng Sơn, một phố khá đặc biệt, làm ra một nét rất riêng của Hà Nội. Hàng Sơn đã bị đổi tên thành phố Chả Cá vì có món ngon tuyệt vời, món độc đáo của đất Hà Thành, có nhà hàng chả cá Lã Vọng, nơi tao nhân mặc khách hẹn hò nhau những khi trời đất đìu hiu thu muộn, để nhâm nhi miếng chả cá Lăng, ngọn rau thì là, chút mắm tôm chanh thơm lựng, ngụm rượu làng Vân tê tê bay bổng.

Hàng Đường còn kia, từng là phố buôn bán đủ thứ bánh kẹo, nhất là Tết Nguyên Đán có mứt bí, mứt sen, Tết Trung Thu có bánh nướng, bánh dẻo, cả người Việt Nam và người Hoa kiều sản xuất. Có nhiều thời gian, đi qua đây là thơm nức đến ngạt ngào hương của va ni, của hoa bưởi, của bột khảo, của thảo quả và bao nhiêu món ngon lành chờ đợi cái lưỡi con người, không phải là bích quy hay ga tô, không phải xúc cù là hay kẹo sữa, kẹo rượu nho... mà chỉ là bánh kẹo ngọt ngào thuần Việt...

Hà Nội không có món rươi tươi thơm lừng vị vỏ quýt thì là vào mùa thu, “tháng chín đôi mươi, tháng mười mùng năm”, rươi từ Hải Phòng về cho nhà nhà thơm nức, cho đồ đệ Lưu Linh ngất ngưởng say sưa…, nhưng vẫn có một phố Hàng Rươi cạnh ngõ Chè Chai, đầu phố Hàng Lược, nơi thành chợ hoa lừng danh mỗi dịp xuân về. Nay phố này hầu như không còn ai buôn rươi nữa, mà rươi đã bán rong mỗi mùa, với tiếng rao đúng giai điệu, tiết tấu, ngôn từ, ngàn người như một, trăm năm vẫn thế, kỳ tài thay là tiếng rao đậm chất “Kẻ Chợ” ấy!...

Nhưng ngôi nhà hình ống của Hà Nội cổ, ngoài cùng là nơi bán hàng, ngả tấm cửa bức bàn xuống làm quầy, trên đặt nào ô mai, nào hàng tấm, nào chai lọ, cái thố muối dưa muối cà, nào giày dép... Tiếp theo là nơi bà chủ nhà ngồi đợi khách đến mua, qua một khoảng sân con, như chiếc giếng trời, có một chậu hoa hồng hay cây vạn tuế, gốc nhài thoang thoảng hương hay khóm trúc đùi gà cằn cỗi... là một đôi gian nữa, nơi ăn ở của cả gia đình. Rồi khu sân phơi phóng, có bể nước hay chum vại, có hòn non bộ gắn ông Lã Vọng gồi câu, bác tiều phu leo dốc, chiếc cầu cong cong chỉ bằng ngón tay út của cụ chủ nhà, ngón tay có mòng dài lá lan... Đây là nơi gửi gắm bao mộng tưởng và suy tư, nơi hò hẹn của một kiếp lai sinh lai lãng du kỳ thú mà kiếp này đành lỡ mối duyên lang bạt...

Khu phố cổ của Hà Nội thực chất xưa kia là một khu buôn bán và các phố nghề. Phố Hàng Trống vừa làm các loại trống, vừa làm nghề thêu và vẽ tranh dân gian. Năm mươi năm trước, phố Hàng Bồ còn rất nhiều nhà đan bồ, đan cót bằng tre nứa, phố Hàng Da làm các nghề bằng da thuộc... Và ngày nay còn đến hơn 80 phố mang chữ Hàng ngay trước nó.

Chợt có một cái gì đó dâng lên nghèn nghẹn! Ngày nay điểm lại, bao nhiêu phố “Hàng” đã mất, nghề cũng mất theo. Có những phố đã mất tên xưa cũ, chỉ còn vấn vương niềm nuối tiếc dư âm. Trăm năm nữa, ai quên, ai nhớ? 

Hàng Điếu không còn một nhà nào làm và bán điếu. Ai biết phố Hàng Cau và phố Hàng Chè lẩn khuất chốn nào? Hàng Cau chính là đầu phố Hàng Bè, còn phố Hàng Chè, chè (trà) để uống chứ không phải chè ngọt nấu bằng đường, chính là đoạn cuối phố Cầu Gỗ, quãng đầu phố Đinh Liệt, nơi còn thông thẳng ra bờ Hồ Gươm, có hiệu sách Nam Ký và toà báo Đông Tây. Nay tòa nhà “hàm cá mập” đã sừng sững chắn ngang, đè lên góc phố này, và Hàng Chè không còn tăm tích.  Hàng Điếu nối Hàng Cót với Hàng Da, không còn ai bán điếu, từ điếu bát điếu cày đến điếu ống hoặc cái nõ điếu bán riêng, mà đã là phố bán mứt hạt sen và trà Thái, trà Phú Thọ... Bất giác nhớ đến “nhà thơ say” Vũ Hoàng Chương. Nhà thơ say họ Vũ đã uống trà sen, nâng hương thơm lên tay mà thở than cho loài hoa tan tác đời mình:

Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm
Ai biết hồn sen rụng xác xơ...
 

Uống trà mà không phải uống trà. Không phải uống trà mà chính là uống trà... Vì thế, búp non cây chè, làn khói hương trà, vị ngọt của trà đã thoát ra ngoài ngụm uống, miếng ăn để trở thành cái cớ cho con người liên tưởng và tha thiết nỗi đời, chính đó là văn hóa.

Hà Nội đã từng có những con người, những phố nghề, những nét văn hoá, những hào hoa, những sinh hoạt đầy chất đô thành như thế. Đó cũng chính là hồn sâu Hà Nội. Không chỉ là buôn bán và làm nghề, mà Hà Nội còn mang trong hồn bao nhiêu tài tử danh nhân, những con người làm ra văn hoá Thăng Long - Hà Nội.

Trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở đâu? Một ngôi trường phổ thông, dạy cho dân những điều hoàn toàn mới mẻ, kể cả chữ viết và khoa học, nhất là không ai phải đóng học phí, đến nỗi chỉ sau mấy tháng, thực dân Pháp đã thấy mối nguy hiểm, ra lệnh đóng cửa trường và bắt bớ tù đày những sĩ phu làm thầy giáo ấy.

Các nhà in đầu tiên ở Hà Nội nằm ở đâu nếu không nói Hàng Gai - Hàng Bông là cái nôi của nó? Cụ Tử Long Lê Đại, một thầy giáo của Đông Kinh Nghĩa Thục sau khi bị đày Côn Đảo về, sống ở Hàng Mắm vui với thú chơi thư pháp, làm câu đối tặng bạn bè. Nhà văn Thạch Lam đã đi qua những phố nào để viết về hàng nước cô Dần cửa chợ Đồng Xuân và những phiên chợ rau đêm, xanh mát, xanh đến tận bây giờ ta còn cảm thấy mát rượi tâm hồn... Phố Hàng Đàn, còn ai là hậu duệ của những danh cầm làm ra cây đàn tranh, đàn đáy, đàn bầu mà ngày nay chúng ta đã mất đi phố Hàng Đàn kỳ diệu?... 

Phố Hàng Quạt từng có nhà thơ Yến Lan. Ngoài bài “Bến My Lăng” trở thành tuyệt tác, ông có những bài thơ “Bình Định 35” và “Bình Định 45”, mà mỗi lần đọc, người yêu thơ cứ bị nỗi kinh dị ám ảnh như lạc vào mê lộ, vào cõi ma, cõi Phật... đầy mộng mị của ý nghĩ, hình ảnh và ngôn từ do Yến Lan vẽ bằng thơ, bằng những câu thơ có lẽ không ai có được xưa nay:

Hồn tôi loãng trên bệ vàng thếp chảy
Cùng hồn trưa quấn quít lấy giao lân
Tám phương bạn - chợp hàng mi - mộng thấy
Xứ tâm tình, vàng rộn lá thu phân...
 

Có một nhà thơ đã viết, đang viết và còn viết vĩnh viễn “bài thơ Hà Nội”. Nó không chỉ là thơ mà còn là tâm sự, nỗi niềm thời đại, chí khí nước non, cứ xuân về lại khuyên những vòng son chói đỏ vào bầu trời Hà Nội. Đó là Phương đình Nguyễn Văn Siêu. Đài Nghiên và Tháp Bút vẫn còn đây, trí tuệ Thăng Long vẫn còn đây. Ông Thần Siêu dựng cây bút bằng đá để viết vào trời xanh Hà Nội những vần thơ thiên cổ. Ta vẫn nghe, ta vẫn đọc, ta vẫn xem được những tài thơ ấy trong mây bay, trong gió liễu, trong lược cầu son chải vào mái tóc tiếng thở dài một Thăng Long thăng trầm. Cái phố Đình Ngang hơi chéo nơi gần Cửa Nam, tức cửa Đại Hưng, nhiều triều đại trước, Cao Bá Quát đã về đâu?... Hình như các tác giả của bài thơ “Thăng Long tráng khúc” ấy vẫn chiều chiều, đêm đêm, xuân hạ thu đông cùng nhau uống rượu, làm thơ, sửa sang từng nét mực óng ánh thời gian, có nét mác như lông mày người con gái, có nét ngang như chí trai hồ phỉ, có nét sổ thẳng đứng như lòng trượng phu... để bài thơ Hà Nội mãi mãi âm vang vào hồn sâu con cháu!... 

Ta lang thang vào Hà Nội xưa như đi trong quyển từ điển nghìn năm, hẳn ta gặp bao nhiêu trang kỳ thú mà nay nhiều cái không còn ở trên đời, nhưng thực ra vẫn còn trong lịch sử và trong hồn người cả nước. Khi chiếc đồng hồ đếm ngược được dựng lên để đo thời gian 1000 ngày dẫn tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, mỗi hồn người Hà Nội dâng trào con sóng yêu thương trước lịch sử huy hoàng một Kinh thành cổ kính và oai hùng. 

Bao điều mất đi trong tiếc thương, nhưng những gì còn lại, chúng ta tâm niệm đó là của cải quý giá vô song, không thể để mất đi thêm được nữa!

Cố Nhà văn Băng Sơn

 
quanho_125x125 disan_hanoi

Hỗ trợ tài chính hội

  • Lợi ích của nhà tài trợ
  • Các Dự án cần hỗ trợ
  • Mẫu đăng ký tài trợ
  • Các nhà tài trợ

Để trở thành Hội viên

Your are currently browsing this site with Internet Explorer 6 (IE6).

Your current web browser must be updated to version 7 of Internet Explorer (IE7) to take advantage of all of template's capabilities.

Why should I upgrade to Internet Explorer 7? Microsoft has redesigned Internet Explorer from the ground up, with better security, new capabilities, and a whole new interface. Many changes resulted from the feedback of millions of users who tested prerelease versions of the new browser. The most compelling reason to upgrade is the improved security. The Internet of today is not the Internet of five years ago. There are dangers that simply didn't exist back in 2001, when Internet Explorer 6 was released to the world. Internet Explorer 7 makes surfing the web fundamentally safer by offering greater protection against viruses, spyware, and other online risks.

Get free downloads for Internet Explorer 7, including recommended updates as they become available. To download Internet Explorer 7 in the language of your choice, please visit the Internet Explorer 7 worldwide page.