Thứ hai, 21 Tháng 8 2017
Trang chủ Hội thảo - Đào tạo Hội thảo Hội thảo khoa học "Giá trị Di sản Văn hóa Cố Đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An"


Hội thảo khoa học "Giá trị Di sản Văn hóa Cố Đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An" PDF. In Email
Thứ bảy, 12 Tháng 6 2010 07:46
Hội thảo khoa học "Giá trị Di sản Văn hóa Cố Đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An"
Di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An
Tất cả trang

 HỘI THẢO KHOA HỌC
“GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ CỐ ĐÔ HOA LƯ VÀ
KHU DU LỊCH SINH THÁI TRÀNG AN”

 

Mục đích Hội thảo: xác định giá trị, lịch sử văn hóa của Cố đô Hoa Lư và những giá trị địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học và môi trường sinh thái của Khu Du lịch sinh thái Tràng An đối chiếu với 10 tiêu chí của UNESCO để làm cơ sở cho việc xây dựng hồ sơ khoa học trình UNESCO công nhận Di sản Văn hóa và Di sản Thiên nhiên Thế giới; Thống nhất những vấn đề khoa học về Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An; Đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An.


Cơ quan chỉ đạo: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; UBND tỉnh Ninh Bình.


Cơ quan thực hiện: Hội Di sản Văn hóa Việt Nam; Cục Di sản văn hóa; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình.


Thời gian, địa điểm tổ chức: ngày 17 tháng 10 năm 2008 tại thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.


Thành phần tham dự: các nhà nghiên cứu, quản lý của Trung ương và địa phương, đại diện các cơ quan báo, đài Trung ương và tỉnh Ninh Bình.

 

HoithaoHoaLu-TrangAn

 

Toàn văn Tổng kết Hội thảo khoa học:


“GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ CỐ ĐÔ HOA LƯ VÀ
KHU DU LỊCH SINH THÁI TRÀNG AN”


                                                                      GS.TSKH.Lưu Trần Tiêu
                                                            Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa Việt Nam


Được sự nhất trí phối hợp giữa Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, UBND tỉnh Ninh Bình và Hội Di sản Văn hoá Việt Nam, trong 2 ngày 16 và 17/10/2008, tại thành phố Ninh Bình, cuộc Hội thảo với tiêu đề “Giá trị Di sản văn hoá Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An” đã được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu và quản lý trên các lĩnh vực khác nhau của Trung ương và địa phương.


Ban Tổ chức Hội thảo đã nhận được 21 bản tham luận. Tại Hội thảo, ngoài phát biểu chào mừng của lãnh đạo tỉnh Ninh Bình, ý kiến của Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Báo cáo đề dẫn, vì điều kiện thời gian nên tại hội trường có 18 ý kiến phát biểu.


Các bài tham luận và ý kiến phát biểu của các nhà khoa học tập trung vào một số nội dung sau đây:


1. Đánh giá về giá trị lịch sử của Cố đô Hoa Lư


Nhiều ý kiến phân tích, làm nổi bật giá trị lịch sử của Cố đô Hoa Lư ở những khía cạnh sau đây:


- Việc đặt tên nước là Đại Cồ Việt và quyết định lập Kinh đô Hoa Lư là sự chuyển biến về chất của lịch sử đất nước và dân tộc ta ở thế kỷ X; (PGS.TS Nguyễn Văn Nhật) là nơi diễn ra và chứng kiến những biến cố quan trọng của đất nước trong gần nửa thế kỷ: dẹp loạn 12 xứ quân thu non sông về một mối; xưng đế, đặt tên nước, dựng Kinh đô, đặt triều nghi, xây dựng nhà nước Trung ương tập quyền, bang giao với bên ngoài, phá Tống, bình Chiêm (Trương Đình Tưởng).


- Kinh đô Hoa Lư không chỉ ghi dấu lịch sử quan trọng của triều Đinh và triều Tiền Lê mà còn chứng kiến một sự kiện đặc biệt có ý nghĩa - Lý Công Uẩn lên ngôi, khai sáng ra nhà Lý với “Chiếu dời đô, áng hùng văn khai sinh Thăng long, mở ra bước ngoặt lịch sử vĩ đại trong công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta (Trương Đình Tưởng).


- Có nhà nghiên cứu cho rằng, không thể có văn hoá Lý - Trần nếu không có văn hoá Đinh - Lê (PGS.TS Tống Trung Tín).


2. Về giá trị di tích

- Nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu giá trị về kiến trúc, điêu khắc, phù điêu, tượng linh vật tại Di tích Cố đô Hoa Lư như đền thờ Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, lăng mộ của hai nhà vua, chùa Nhất Trụ, chùa Bích Động với đề tặng của vua Lê Cảnh Hưng “Nam thiên đệ nhị động”, đền Thái Vi .v.v. (TS Trần Mạnh Khoa, PGS.TS Trần Lâm Biền, PGS.TS Nguyễn Văn Nhật…), cùng với những tên động, tên núi, tên sông gắn với những dấu ấn lịch sử thời Đinh, Lê, tuy ngắn ngủi  (42 năm) nhưng thực sự có ý nghĩa trong tiến trình lịch sử của dân tộc.


- Một số nhà nghiên cứu tìm hiểu về văn bia, câu đối, đại tự, cung cấp những tư liệu quý về triều đại xây dựng các công trình kiến trúc, về quá trình trùng tu di tích và ý nghĩa của văn bia, đại tự, câu đối, là cứ liệu để giúp cho việc xác định di sản đã không còn nữa như Điện Trường Xuân chẳng hạn.


- Một di tích quan trọng của Cố đô Hoa Lư - các vòng thành cũng được một số nhà nghiên cứu đề cập. PGS.TS Nguyễn Văn Nhật cho rằng, Cố đô Hoa Lư đáp ứng được các yêu cầu của lịch sử lúc bấy giờ là “phòng thủ và xây dựng đất nước”, là một công trình kiến trúc thành luỹ vĩ đại, vừa dựa vào thế núi tự nhiên, vừa có công sức của bàn tay con người; hoặc Kinh đô Hoa Lư vừa mang tính chất Kinh đô, vừa mang yếu tố quân thành (Trương Đình Tưởng). Trước đây người ta chỉ nói đến 2 vòng thành là thành Nội và thành Ngoại, nhưng gần đây có người cho là có một thành nữa ở phía Nam gọi là thành Nam. Về 3 vòng thành này GS Lê Văn Lan cũng nhắc đến trong bài tham luận của mình.


- Đối với những di tích gắn với thời Đinh, Lê còn nằm trong lòng đất, theo PGS.TS Tống Trung Tín, các di tích ở đây thường ở trong tình trạng bị huỷ hoại nặng nề, địa tầng không còn nguyên vẹn. Tuy nhiên, trong các hố khai quật cũng thấy sự có mặt đồ gốm, đồ sành Việt Nam, trong đó có một số hiện vật lần đầu tiên tìm thấy như đài sen, hoa cúc, tượng theo phong cách nghệ thuật Đinh - Lê. Có cả hiện vật thời trước đó (thế kỷ thứ VI - VII và IX) và sau đó (thế kỷ XI - XIV), nhưng không xây dựng mới mà chỉ sử dụng lại kiến trúc thời Đinh - Lê. Ở thế kỷ XV - XVI và XVII - XVIII không tìm thấy vết tích kiến trúc mà chỉ có gốm men. Tác giả khẳng định: nghệ thuật kiến trúc và trang trí thời Đinh - Lê phát triển mạnh và định hình được phong cách riêng, khác với nghệ thuật Trung Quốc thời Đường - Tống. Có sự giao lưu với Trung Hoa và có mối liên hệ truyền thống với văn hoá Đông Sơn.


- Đi xa về quá khứ hơn nữa, một số nhà khảo cổ như PGS.TS Nguyễn Khắc Sử, Nguyễn Cao Tấn đã khảo sát nhiều hang động trong vùng Tràng An, dù phần lớn chưa được khai quật, nhưng qua dấu vết để lại có thể có dấu tích của con người, trong đó có cả thời tiền sử cách đây 5.000 - 30.000 năm.


3. Đánh giá giá trị thiên nhiên


a) Về giá trị thẩm mỹ:


Theo tập thể tác giả Trần Nghi, Doãn Đình Lâm… thì địa hình độc đáo nhất ở Cố đô Hoa Lư và Tam Cốc Bích Động là kiểu karst “Vịnh Hạ Long trên cạn”. Sự khác biệt của vùng karst Ninh Bình so với Vịnh Hạ Long là “Vịnh Hạ Long trên cạn” không những chỉ có sự so sánh về hình thái mà còn thể hiện cả bản chất của một Hạ Long thực sự trong Holocen giữa (cách đây 6000 năm, biểu hiện cả trên mặt và cảnh quan karst ngầm).


b) Về địa chất địa mạo:


Theo nhiều nhà nghiên cứu về tự nhiên, đặc trưng tiêu biểu nhất của địa chất địa mạo ở đây là số lượng hang động rất phong phú, đa dạng về hình thái, chủng loại, tạo thành từng cụm, thạch nhũ đa dạng, kết cấu tầng lớp liên hoàn; có hang động xuyên thuỷ, hang động thông và hang ngầm. Là karst nhiệt đới điển hình trải qua những giai đoạn tiến hoá lâu dài còn được thể hiện khá rõ trên địa hình và trầm tích, có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu khí hậu và sự tiến hoá địa hình, ghi dấu ấn của các thời kỳ nước biển dâng trong kỷ đệ tứ liên quan đến các đợt gian băng và khí hậu nóng lên; nghiên cứu sự thích nghi của con người trong thời kỳ biển tiến, biển lùi và sự biến đổi của môi trường khí hậu về thời kỳ này. (GS.TSKH Vũ Quang Côn, Doãn Đình Lâm…).


c) Đa dạng sinh học:


Giá trị đa dạng sinh học ở khu vực này thể hiện sự phong phú của thảm thực vật, hệ động vật, hệ sinh thái thực vật, thực vật tảo, động vật nổi, động vật đáy cỡ lớn và các nhóm côn trùng nước, cá (GS.TSKH Vũ Quang Côn, GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn…). Có nhà nghiên cứu (Nguyễn Ngọc Luyên) đã đưa ra những số liệu cụ thể: 577 loài thực vật, trong đó có 10 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam, 311 loài dùng làm thuốc, động vật thuỷ sinh ngập nước có 30 loài động vật nổi, 40 loài động vật đáy, trong đó có loài rùa cổ sọc quý hiếm. Theo TS Vũ Thế Long, núi đá vôi, thung lũng đá vôi đầm lầy, sông trong núi đá vôi, sông ngầm, hang động, rừng trên núi đá vôi, hệ động vật và thực vật… mang một sắc thái rất đặc biệt mà không một vùng nào trên đất nước ta có được.


Tuy nhiên, các nhà khoa học đã cảnh báo, theo quy luật của diễn thái tự nhiên thì những thung lũng ngày càng nông dần, có nơi khô cạn sẽ kéo theo sự biến đổi của các dòng chảy trên mặt cũng như các con sông ngầm trong khu vực này mà chưa có một công trình nghiên cứu về sinh thái học được thực hiện một cách đầy đủ .


4. Đánh giá về tiềm năng du lịch


- Theo PGS.TS Phạm Trung Lương, với giá trị lịch sử - văn hoá, văn hoá phi vật thể, làng nghề thủ công truyền thống, công trình tín ngưỡng tôn giáo, môi trường sinh thái… Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An có thể trở thành điểm đến du lịch tầm cỡ quốc gia, khu vực và quốc tế. Ninh Bình có nhiều lợi thế du lịch: gần các đô thị lớn, nhất là Hà Nội, đường quốc lộ, hệ thống sông dày đặc… Những năm vừa qua hoạt động du lịch có nhiều đổi mới và tiến bộ.


- Tuy nhiên, cũng còn nhiều hạn chế như: khách lưu trú ở Ninh Bình còn ít do thiếu các cơ sở lưu trú chất lượng cao. Cho tới nay, toàn tỉnh chưa có khách sạn 3 sao nào, sản phẩm du lịch đơn điệu, dịch vụ hạn chế; trình độ quản lý, trình độ ngoại ngữ hạn chế; kết nối tour đưa đón chưa tốt; quảng bá du lịch chưa tương xứng với tiềm năng.


Tài nguyên và môi trường khu vực đang đứng trước nguy cơ suy thoái do tác động của hoạt động khai thác sản xuất vật liệu xây dựng và phát triển đô thị.


- GS. Hoàng Đạo Kính cho rằng, Ninh Bình cần xác định rõ khu vực mà Hội thảo đang đề cập đến là phát triển kinh tế công nghiệp hay kinh tế du lịch. Theo GS, thiên nhiên đã ưu đãi cho Ninh Bình một thắng cảnh tuyệt vời, một tiềm năng du lịch lớn, một ưu thế vượt trội để phát triển kinh tế du lịch, làm kinh tế công nghiệp ở đây sẽ huỷ hoại môi trường thiên nhiên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài nguyên du lịch.


5. Về khả năng xây dựng hồ sơ Di sản Thế giới


Thật ra, trong các bài tham luận rất ít nhà nghiên cứu đề cập đến những tiêu chí mà UNESCO đã hướng dẫn để căn cứ vào đó, các quốc gia đề cử di sản của mình đề nghị UNESCO xem xét đưa vào Danh mục Di sản Thế giới. Tuy nhiên, khi phát biểu tại Hội trường thì nhiều nhà khoa học lại đề xuất những kiến nghị cụ thể. Trong bài viết nhan đề “Những vấn đề cần quan tâm khi lập hồ sơ khoa học về Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An”, PGS.TS Nguyễn Quốc Hùng chủ yếu tập trung vào việc hướng dẫn tiêu chí, không đưa ra những ý kiến cụ thể về khả năng khu di tích này có đạt hay không đạt các tiêu chí của UNESCO. Trong bài viết, tác giả nhận xét là Khu Tràng An đã có nhiều hoạt động tác động mạnh đến sự toàn vẹn và tính nguyên gốc khu vực này, như làm đường, đục núi, phá hang, khơi sông, xây chùa mới. Tác giả cho rằng nếu chưa khắc phục được những việc nêu trên thì chưa thể triển khai các công việc tiếp theo.


Trong bài viết của mình, GS Lê Văn Lan đã nêu lên đôi điều phân vân về tiêu đề của Hội thảo “Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An”. Vì theo Giáo sư, khi Hoa Lư từ chỗ là Kinh đô trở thành Cố đô thì chính lúc ấy đã được gọi là Tràng An (Trường Yên) rồi. Vấn đề đặt ra là Cố đô Hoa Lư và Khu sinh thái Tràng An là hai hay một? Từ đây liên quan đến tên gọi của di sản mà chúng ta có ý định xây dựng Hồ sơ trình UNESCO. Mối quan hệ giữa khu vực này với khu vực chùa Bái Đính ra sao? Giải quyết như thế nào cho thuyết phục giữa một công trình xây mới như khu chùa Bái Đính với Khu Sinh thái Tràng An cần được bảo tồn nguyên trạng? Với những khu vực khác nhau về tính chất thì phạm vi của di sản như thế nào? Theo Giáo sư, nếu làm hồ sơ thì phải lấy Kinh đô Hoa Lư là trụ cột và liên kết với đâu đó để làm nổi bật giá trị của di sản.


Nhân Hội thảo này, tôi xin được làm rõ một số vấn đề liên quan đến yêu cầu và các tiêu chí của một di sản lập Hồ sơ khoa học trình UNESCO xem xét đưa vào Danh mục Di sản Thế giới:


Trong bản Hướng dẫn 2005 về Hồ sơ các quốc gia đề cử Di sản Thế giới theo Công ước bảo vệ Di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới, UNESCO nêu 10 tiêu chí, trong đó có 6 tiêu chí văn hoá và 4 di sản thiên nhiên. Xin lưu ý 4 vấn đề của Hồ sơ:


a) Có 3 loại hồ sơ về di sản:


- Về di sản văn hoá (6 tiêu chí).
- Về di sản thiên nhiên (4 tiêu chí), trong đó có 3 hướng tiếp cận:
+ Thẩm mỹ
+ Địa chất địa mạo
+ Đa dạng sinh học
- Hỗn hợp di sản văn hoá và di sản thiên nhiên (mix).


b) Về tính nổi bật toàn cầu cần chú ý 2 yêu cầu:


- Một di sản có giá trị tiêu biểu trong nước, nhưng chưa hẳn đã đạt được tính nổi bật toàn cầu. Yêu cầu của UNESCO là quốc gia đề cử phải so sánh với những di sản khác đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới để xác định giá trị di sản đề cử ở mức độ ra sao?


- Là cơ sở để Thế giới quy chiếu cho việc xác định giá trị những di sản khác của thế giới.


c) Tính chân xác của di sản: thực chất đây là yếu tố nguyên gốc của di sản. Tức là những di tích được xây dựng có niên đại đúng vào thời kỳ lịch sử mà chúng ta đề cử làm hồ sơ. UNESCO không xem xét những công trình được xây dựng để suy tôn của thời đại sau này.


d) Tính toàn vẹn của di sản: đây là khu vực bảo vệ (khu vực lõi và vùng đệm) và sự cam kết của quốc gia về tính toàn vẹn đó. Đây là điều phải cân nhắc kỹ để tránh phải giải trình hàng năm với UNESCO khi chúng ta xây dựng những công trình mới trong khu vực bảo vệ di sản.


Về Hồ sơ Cố đô Hoa Lư, cần tiếp tục nghiên cứu, trao đổi để đi đến xác định xây dựng hồ sơ theo hướng nào?


a) Di sản văn hoá lấy Cố đô Hoa Lư làm nòng cốt. Để làm được điều này cần phải tiến hành khai quật với quy mô lớn để chứng minh thuyết phục được UNESCO về giá trị nguyên gốc của Cố đô Hoa Lư, tức là phát lộ được nền móng của các công trình kiến trúc đủ về số lượng và chất lượng để chứng minh giá trị nổi bật toàn cầu của Cố đô Hoa Lư thời Đinh - Lê (thế kỷ X).


b) Di sản thiên nhiên
- Về thẩm mỹ cần chứng minh Hoa Lư là “Vịnh Hạ Long trên cạn”.
- Về địa chất địa mạo, cần chú ý chứng minh:
+ Môi trường cảnh quan địa chất địa mạo thời kỳ biển tiến biển lùi hiện còn lưu giữ nhiều tư liệu tại Ninh Bình. Nếu có nhiều tư liệu sẽ giúp nghiên cứu về môi trường khí hậu toàn cầu thời kỳ biển tiến biển lùi mà UNESCO đang ưu tiên xây dựng hồ sơ về thiên nhiên, nhất là thiên nhiên biển.
- Về đa dạng sinh học, cần nghiên cứu sâu, có số liệu cụ thể. Chú ý xu hướng của UNESCO là khoanh vùng bảo vệ rộng đối với việc đăng ký theo tiêu chí này. Việc đăng ký khu vực bảo vệ rộng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng kinh tế gắn với khu vực Cố đô Hoa Lư và Khu Du lịch sinh thái Tràng An.


Các nhà nghiên cứu đề nghị mở rộng cả Tam Cốc, Bích Động.


c) Di sản hỗn hợp (mix): cần xác định cái gì là trụ cột: Di tích Cố đô Hoa Lư hay di sản thiên nhiên. Điều này còn liên quan đến tên của Hồ sơ mà một cuộc hội thảo không thể giải quyết được.


6. Một số kiến nghị


a) Giá trị các mặt của Cố đô Hoa Lư còn ở dạng tiềm ẩn, chưa đủ cơ sở khoa học với các công trình nghiên cứu sâu, với những cứ liệu được xác định có tính thuyết phục cao về giá trị toàn nổi bật toàn cầu.


Vì vậy, đề nghị UBND tỉnh nghiên cứu kỹ những ý kiến của Hội thảo để đầu tư cho công tác nghiên cứu. Ý kiến chung của các nhà khoa học là nên phát huy vẻ đẹp thiên nhiên, khai thác thế mạnh mà ở các địa phương khác không có được để phát triển làm kinh tế du lịch; nên dịch chuyển phát triển kinh tế công nghiệp đến khu vực khác.


Cần tổ chức những cuộc họp chuyên gia để tư vấn cho tỉnh về hướng xây dựng hồ sơ. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cũng lưu ý không nên nóng vội vì việc này đòi hỏi thời gian, chuyên gia, kể cả kinh phí không nhỏ.


b) Đề nghị tỉnh tập trung tổ chức thực hiện “Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Khu Di tích lịch sử - văn hoá Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 82/2003/QĐ - TTg ngày 24-4-2003. Trong Quy hoạch này, ngoài các di tích, Quyết định cũng đã nêu đối tượng bảo tồn cả núi đá, hang động, sông, rừng, hệ thống động vật trên núi, dưới nước, văn hoá dân gian, nghề thủ công truyền thống.


Trong Hội thảo này, các nhà khoa học cũng kiến nghị bảo vệ núi đá vôi được coi là “Vịnh Hạ Long trên cạn”. Xác định ranh giới cụ thể trên bản đồ. Cần tiết kiệm nguồn tài nguyên có thể tái tạo và bảo vệ tốt nhất các tài nguyên không thể tái tạo (Di sản văn hoá).


c) Trước mặt đề nghị UBND tỉnh phối hợp với Cục Di sản văn hoá xây dựng Hồ sơ đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét xếp hạng Di tích Cố đô Hoa Lư là Di tích quốc gia đặc biệt.


d) Đề nghị UBND tỉnh nghiên cứu việc xây dựng đền vua Lý Thái Tổ tại Hoa Lư.



 
quanho_125x125 disan_hanoi

Hỗ trợ tài chính hội

  • Lợi ích của nhà tài trợ
  • Các Dự án cần hỗ trợ
  • Mẫu đăng ký tài trợ
  • Các nhà tài trợ

Để trở thành Hội viên

Your are currently browsing this site with Internet Explorer 6 (IE6).

Your current web browser must be updated to version 7 of Internet Explorer (IE7) to take advantage of all of template's capabilities.

Why should I upgrade to Internet Explorer 7? Microsoft has redesigned Internet Explorer from the ground up, with better security, new capabilities, and a whole new interface. Many changes resulted from the feedback of millions of users who tested prerelease versions of the new browser. The most compelling reason to upgrade is the improved security. The Internet of today is not the Internet of five years ago. There are dangers that simply didn't exist back in 2001, when Internet Explorer 6 was released to the world. Internet Explorer 7 makes surfing the web fundamentally safer by offering greater protection against viruses, spyware, and other online risks.

Get free downloads for Internet Explorer 7, including recommended updates as they become available. To download Internet Explorer 7 in the language of your choice, please visit the Internet Explorer 7 worldwide page.