HoiDiSan.vn | Hội Di sản Văn hóa Việt Nam & Tạp chí Thế giới Di sản HoiDiSan.vn | Hội Di sản Văn hóa Việt Nam & Tạp chí Thế giới Di sản

HoiDiSan.vn | Hội Di sản Văn hóa Việt Nam & Tạp chí Thế giới Di sản HoiDiSan.vn | Hội Di sản Văn hóa Việt Nam & Tạp chí Thế giới Di sản

HoiDiSan.vn | Hội Di sản Văn hóa Việt Nam & Tạp chí Thế giới Di sản HoiDiSan.vn | Hội Di sản Văn hóa Việt Nam & Tạp chí Thế giới Di sản

HoiDiSan.vn | Hội Di sản Văn hóa Việt Nam & Tạp chí Thế giới Di sản HoiDiSan.vn | Hội Di sản Văn hóa Việt Nam & Tạp chí Thế giới Di sản

Hội Di sản Văn hóa

Developed by JoomVision.com
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterTruy cập trong ngày:18
mod_vvisit_counterTổng số lượt truy cập:10017
Hiện có: 6 khách, bots online
Thứ sáu, 25 / 04 / 2014


Bảo tàng Điêu khắc Chăm, Đà Nẵng - Thay đổi cách tiếp cận và phương pháp thực hiện chương trình giáo dục trong nỗ lực gắn kết cộng đồng

PDF.InEmail

Được khởi công xây dựng từ năm 1915 bởi Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội và chính thức mở cửa cho công chúng vào năm 1919, Bảo tàng Điêu Khắc Chăm Đà Nẵng là nơi lưu giữ và trưng bày bộ sưu tập các tác phẩm điêu khắc Champa lớn nhất ở Việt Nam. Hằng năm, bảo tàng đón tiếp hàng trăm ngàn du khách trong và ngoài nước đến tham quan. Số lượng khách tham quan lớn đã khẳng định giá trị bộ sưu tập điêu khắc Champa cũng như tầm quan trọng của bảo tàng trong việc lưu giữ, trưng bày và quảng bá di sản văn hóa đặc sắc của người Chăm để lại.
Tuy nhiên, một trong những vấn đề Bảo tàng Điêu Khắc Chăm hiện đang quan tâm là việc tổ chức các chương trình giáo dục hướng đến công chúng địa phương, đặc biệt là học sinh - sinh viên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Bảo tàng ngày nay không những thực hiện chức năng bảo quản, chăm sóc và nghiên cứu các bộ sưu tập mà còn là nơi cung cấp các dịch vụ xã hội, để tạo cơ hội mang lại sự công bằng cho các cá nhân cũng như nâng cao lợi ích của cộng đồng. Vì thế các bảo tàng đặt trọng tâm hoạt động vào chức năng giáo dục của bảo tàng, nhằm đáp ứng nhu cầu của công chúng địa phương. Vậy Bảo tàng Điêu khắc Chăm đã làm những gì để thực hiện chức năng giáo dục của mình trong thời gian vừa qua? Bài tham luận này sẽ đề cập những thực trạng về công tác giáo dục của Bảo tàng Điêu khắc Chăm và hướng tiếp cận mới của bảo tàng trong nỗ lực thay đổi cách thức tổ chức các chương trình giáo dục hướng đến đối tượng là học sinh - sinh viên trên địa bàn thành phố. Bài viết cũng giới thiệu những chương trình giáo dục thành công mà bảo tàng đã và đang thực hiện.
Thực trạng về công tác giáo dục của Bảo tàng Điêu khắc Chăm
Theo số liệu thống kê năm 2012, tổng lượng khách đến tham quan Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng là 183.871 lượt người và bảo tàng đạt doanh thu vé 5.294.380.000 đồng.
Tuy nhiên, nhìn vào con số khách tham quan năm 2012 và các năm trước nữa, chúng ta dễ dàng nhận ra là lượng khách đến với bảo tàng chủ yếu vẫn là khách du lịch quốc tế, và bảo tàng vẫn chưa thật sự gắn kết, thu hút cộng đồng địa phương vào các hoạt động của mình. Trong số 183.871 khách đến bảo tàng trong năm 2012, khách quốc tế chiếm 168.871 người và khách nội địa là 15.000 người, chủ yếu là khách du lịch đến từ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác trong cả nước. Trong tổng lượng khách nội địa, số lượng học sinh - sinh viên chiếm 4.250 người mà đa phần là học sinh - sinh viên đến từ các trường đại học - cao đẳng trên toàn quốc. Chưa có số liệu thống kê chính thức có bao nhiêu học sinh - sinh viên đến từ địa bàn thành phố Đà Nẵng, tuy nhiên con số thực sự vẫn rất khiêm tốn. Bảo tàng tọa lạc ngay trung tâm thành phố nhưng rất ít trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông, trung học cơ sở và tiểu học tổ chức các chuyến tham quan hay các lớp học tại bảo tàng cho học sinh. Vậy đâu là lí do cho thực trạng này?
Thứ nhất, bảo tàng thiếu những chương trình giáo dục, chương trình công chúng hấp dẫn cho học sinh và người dân trên địa bàn thành phố. Những chương trình giáo dục phổ biến cho học sinh mà một bảo tàng có thể tổ chức bao gồm: Tham quan có hướng dẫn, hội thảo chuyên đề, tọa đàm với khách mời, lớp dạy mỹ thuật - thủ công, lớp tập huấn, triễn lãm lưu động, khóa thực tập hay khóa nâng cao bồi dưỡng kĩ năng cho giáo viên... Tuy nhiên hình thức phổ biến nhất được tổ chức cho học sinh không chỉ ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm mà cả ở các bảo tàng khác ở Việt Nam là tham quan có hướng dẫn. Các chuyến đi tham quan thường do nhà trường tổ chức nhân dịp những ngày lễ lớn hoặc như một hình thức khen thưởng cho những học sinh có thành tích xuất sắc, ngoại trừ sinh viên khoa du lịch và lịch sử đến bảo tàng là do yêu cầu đi thực tế của chương trình học.
Những chuyến thăm quan này trên thực tế vẫn chưa thật sự đạt hiệu quả bởi số lượng học sinh trong mỗi chuyến tham quan quá đông, thiếu mục đích và trọng tâm bài học cụ thể, thiếu phương pháp sư phạm và học liệu trực quan sinh động. Vấn đề này cũng đã được PGS.TS Nguyễn Văn Huy đề cập đến trong bài viết in trên tập san “Từ Dân tộc học đến Bảo tàng Dân tộc học: Con đường học tập và nghiên cứu.” Trong mỗi chuyến tham quan, học sinh được giới thiệu về lịch sử, tôn giáo, kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc Champa. Các em chỉ nghe một cách thụ động, và được tiếp xúc với quá nhiều hiện vật, quá nhiều chủ đề trong một buổi tham quan thông qua phần hướng dẫn của nhân viên thuyết minh. Điều này hoàn toàn đi ngược lại lý thuyết học dựa trên sự khám phá và trải nghiệm cá nhân mà các bảo tàng phương Tây đã áp dụng rộng rãi trong các chương trình giáo dục của họ. Kết quả là các buổi tham quan chỉ có tính chất phong trào mà không đem lại hiệu quả thiết thực, học sinh sau khi từ bảo tàng trở về hầu như không ghi nhớ, không gắn kết được nội dung tham quan với bài học ở lớp, không có những cảm nhận và trải nghiệm nghệ thuật thú vị, không yêu mến và không có nhu cầu quay trở lại bảo tàng để tiếp tục tìm hiểu, khám phá. Trong nhiều năm qua các cán bộ bảo tàng đã nhận thức được mặt yếu kém của hình thức tổ chức tham quan có hướng dẫn cho học sinh, nhưng xuất phát từ những khó khăn của nhà trường trong việc tổ chức ngoại khóa cho học sinh, sự hạn hẹp về kinh phí, sự quá tải của chương trình học tại lớp, và hơn nữa cán bộ giáo dục của bảo tàng chưa được trang bị những lý thuyết sư phạm và kĩ năng tổ chức chương trình giáo dục, nên chương trình giáo dục cho học sinh đến với bảo tàng vẫn duy trì ở hình thức tham quan có hướng dẫn cho tất cả các đối tượng học sinh - sinh viên.
Lí do thứ hai dẫn đến tình trạng bảo tàng không thu hút được học sinh - sinh viên là bảo tàng thiếu sự hợp tác với các trường trên địa bàn thành phố. Khi bàn về giáo dục bảo tàng là bàn về mối quan hệ có tính chất đối tác và tương hỗ giữa bảo tàng và trường học. Trong bảng khảo sát năm 2002 tựa đề “True Needs, True Partners”, Robert S. Martin - Giám đốc Viện Bảo tàng và Dich vụ Thư viện (Institute of Museum and Library Services) của Hoa Kì đã khẳng định những lợi ích của mối liên kết bảo tàng - trường học như sau:
Các bảo tàng là những đối tác giáo dục thật sự giúp trường học đáp ứng mục tiêu chương trình giảng dạy, và đồng thời ở bảo tàng học sinh có thể học tất cả các môn học từ toán, khoa học, địa lý đến lịch sử, nghệ thuật và các môn khoa học xã hội. Các bảo tàng cung cấp nhiều chương trình và dịch vụ cho học sinh thông qua những chuyến tham quan, triễn lãm lưu động, hay các website, video và các ấn phẩm in khác.
Trong nhiều năm qua, ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm việc xây dựng đối tác với các trường học trên địa bàn thành phố vẫn còn khá hạn chế. Bảo tàng chưa chủ động liên lạc và làm việc với các trường để hiểu rõ chương trình giảng dạy thực tế tại các trường, từ đó xây dựng những chương trình giáo dục kết nối được bộ sưu tập hiện vật của bảo tàng với nội dung giảng dạy tại các trường. Giáo viên của các trường cũng chưa thật sự nắm được nội dung trưng bày của bảo tàng, cũng như những dịch vụ giáo dục mà bảo tàng có thể cung cấp. Chính sự thiếu hợp tác này đã khiến cho các buổi tham quan của học sinh thiếu trọng tâm, không có sự gắn kết với nội dung học ở trường, và thiếu những học liệu cần thiết.
Một lí do quan trọng nữa khiến học sinh - sinh viên, cũng như công chúng địa phương không muốn đến bảo tàng là bảo tàng thiếu các phương tiện thuyết minh - diễn giải nội dung hiện vật cho du khách. Tại các phòng trưng bày không có các ki-ốt máy tính, thiết bị nghe nhìn như video, hệ thống tai nghe hay các phần mềm ứng dụng cho các thiết bị cầm tay như máy tính bảng và điện thoại cảm ứng. Để hiểu thông tin và ý nghĩa hiện vật, học sinh và du khách chỉ có thể sử dụng các hộp thông tin và hệ thống etiket. Tuy nhiên các etiket chỉ cung cấp những thông tin hiện vật tổng quát và hầu như không có nhiều sự thay đổi, chỉnh lý trong suốt nhiều năm qua. Các bảng thông tin hiện vật khá to, nặng và lượng thông tin đưa ra quá nhiều, nhưng thiên về cách tiếp cận lịch sử mỹ thuật, mang tính học thuật nên chỉ thích hợp cho những nhà nghiên cứu nghệ thuật chuyên sâu hay những người cùng trong nghành. Du khách có xu hướng tìm đến những thông tin đơn giản nhưng sinh động, thích sử dụng thiết bị công nghệ để tiếp cận hiện vật và tìm hiểu ý nghĩa hơn là đọc những bảng chỉ dẫn con chữ dày đặc nhưng dễ gây nhàm chán. Học sinh - sinh viên là những du khách rất hiếu động, tò mò, thích khám phá. Khi bảo tàng chỉ có trưng bày thuần túy mà thiếu đi các thiết bị nghe - nhìn, thiết bị công nghệ tương tác hỗ trợ việc tìm hiểu, tra cứu thông tin thì các em sẽ thấy tẻ nhạt và không có mong muốn được đến bảo tàng.
Hướng về cộng đồng: Thay đổi cách tiếp cận và phương pháp tổ chức chương trình giáo dục cho học sinh tại bảo tàng.
Một bảo tàng, trước hết phải phục vụ cho lợi ích của cộng đồng nơi bảo tàng được xây dựng. Để thu hút du khách địa phương, bảo tàng phải định rõ đối tượng khách mà mình muốn tiếp cận và xây dựng chương trình hợp lý để phục vụ cho đối tượng đó. Thực tế người dân Đà Nẵng không thích đến bảo tàng, là do bản thân bảo tàng chưa tạo được sự hấp dẫn với du khách, và do nhu cầu thưởng thức nghệ thuật còn thấp, người dân chưa có thói quen đi bảo tàng. Để xây dựng một thói quen, phải bắt đầu từ giáo dục và giáo dục từ tuổi nhỏ. Từ cách tiếp cận này, và từ những hạn chế trong cách thức tổ chức chương trình giáo dục cho học sinh như đã đề cập ở trên, Phòng Giáo dục - Truyền thông của bảo tàng đã có những điều chỉnh trong phương pháp và cách thức tổ chức chương trình giáo dục.
Đối tượng đầu tiên mà bảo tàng hướng đến là học sinh tiểu học. Từ những kinh nghiệm đúc kết được trong việc tổ chức các hoạt động cho học sinh tiểu học, phòng giáo dục của bảo tàng sẽ đề ra chiến lược phát triển những chương trình hướng đến đối tượng học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông cũng như tổ chức các chương trình gia đình mang tính định kì để tạo sự gắn kết giữa bảo tàng - gia đình - nhà trường. Hơn nữa, trong điều kiện kinh phí chi cho các hoạt động giáo dục-truyền thông còn hạn chế, và sự thiếu hụt nguồn nhân sự được đào tạo các kĩ năng cần thiết để thực hiện công tác giáo dục, bảo tàng không thể tổ chức quá nhiều hoạt động cho nhiều đối tượng khác nhau ở thời điểm này. Các chương trình đều ở giai đoạn thử nghiệm, vì vậy phải mang tính tập trung và đảm bảo được hiệu quả thiết thực để làm lực đẩy cho những chương trình kế tiếp.
Để thay thế hình thức tham quan có hướng dẫn theo cách “truyền thống” trước đây, bảo tàng tập trung tổ chức các lớp học theo chủ điểm cho các nhóm học sinh dựa trên lứa tuổi và có sự gắn kết với nội dung chương trình giảng dạy tại trường học. Mục đích của các lớp học cho bậc tiểu học, về mặt kiến thức, là tạo điều kiện cho các em được tiếp xúc và tìm hiểu các tác phẩm điêu khắc Champa, qua đó nâng cao hiểu biết về văn hóa, lịch sử và nghệ thuật Champa. Đồng thời các buổi học là cơ hội để giáo viên phụ trách lớp hoặc phụ trách bộ môn có thể bổ sung thêm kiến thức trong chương trình giảng dạy tại trường cho học sinh. Về mặt kĩ năng, các buổi học giúp các em phát triển óc sáng tạo, các kĩ năng cần thiết trong cuộc sống như: kĩ năng làm việc độc lập và theo nhóm, kĩ năng thuyết trình, kĩ năng viết, kĩ năng tìm kiếm - sưu tầm - kết nối hiện vật bảo tàng với thực tế cuộc sống, kĩ năng quan sát - phân tích…
Về mặt phương pháp tổ chức, một buổi tham quan hoặc một lớp học cho học sinh tại bảo tàng phải đảm bảo ba yếu tố: Trước - Trong - Sau. Trước khi học sinh đến bảo tàng, giáo viên phụ trách lớp giúp cung cấp cho học sinh những thông tin cơ bản về buổi học sắp đến, phổ biến nội quy tham quan và yêu cầu các em làm một số hoạt động nhỏ như: Sưu tầm một bức ảnh, trả lời câu hỏi trên phiếu hoạt động do bảo tàng biên soạn và cung cấp, hoặc đọc sách hướng dẫn tham quan. Trong buổi học tại bảo tàng, các em sẽ tập trung vào các hoạt động khám phá hiện vật, trả lời câu hỏi, thực hiện các trò chơi mang tính tương tác. Tùy thuộc vào thời lượng của buổi học, độ tuổi học sinh, nội dung chương trình giảng dạy tại trường của khối lớp mà nhân viên giáo dục bảo tàng và giáo viên phụ trách lớp sẽ chọn chủ đề học và các hoạt động, trò chơi tương thích với đối tượng học sinh.
Thuyết giáo dục Học qua khám phá (Discovery Learning) xuất phát từ phong trào giáo dục tiên tiến do John Dewey khởi xướng từ những năm đầu thế kỉ 20 và đến những năm 1960 đã chính thức được các nhân viên giáo dục bảo tàng ở các nước phương Tây ứng dụng vào các lớp dạy cho học sinh tại bảo tàng. Thuyết này nhấn mạnh việc học thông qua thực hành, học là một quá trình trong đó học sinh đóng vai trò trung tâm, và trong quá trình tương tác với học liệu, học sinh sẽ chủ động tiếp thu kiến thức. Vì vậy người giáo viên phải biết cách thiết kế bài giảng và thiết kế học liệu trực quan sinh động, mang tính tương tác để kích thích sự hoạt động não bộ của người học và tăng tính chủ động của người học trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Trên cơ sở lý thuyết này, ta có thể đưa ra một số yếu tố đảm bảo sự thành công trong một buổi học tại bảo tàng như sau. Thứ nhất, các em được tự do sáng tạo, được phát huy tính chủ động của mình, được khuyến khích thể hiện mình thông qua các hình thức làm việc nhóm, cá nhân và việc tham gia vào các trò chơi mang tính tương tác, khám phá cao. Thứ hai, tài liệu học tại bảo tàng phải mang tính trực quan, sinh động và nội dung buổi học phải gần gũi, thiết thực và trong tầm nhận thức của các em. Bởi vậy việc lựa chọn hiện vật giảng dạy là rất quan trọng. Không chuyển tải quá nhiều tác phẩm đến với các em trong một buổi học. Thay vào đó chỉ chọn lọc trong tầm bốn hoặc năm tác phẩm, và phát triển nhiều hoạt động khám phá và trò chơi thú vị xoay quanh các tác phẩm. Thứ ba, hạn chế sự can thiệp của giáo viên và nhân viên bảo tàng vào các hoạt động của học sinh. Giáo viên đứng lớp, nhân viên giáo dục bảo tàng và tình nguyện viên chỉ thực hiện vai trò giám sát, trợ giúp. Học sinh phải là người chủ động tham gia vào quá trình khám phá, tìm hiểu tri thức. Có như thế thì các em mới hình thành được những kĩ năng mà mục đích của buổi học hướng đến, và học sinh sẽ ghi nhớ bài lâu hơn.
Sau buổi học tại bảo tàng, các em được giao một số hoạt động để thực hiện tại nhà hoặc tại lớp như vẽ tranh, viết bài cảm nhận, trả lời câu hỏi trắc nghiệm…Hoặc bảo tàng sẽ tổ chức các cuộc thi sáng tác tranh, hùng biện theo định kì để khuyến khích sự gắn kết giữa học sinh - gia đình - nhà trường với bảo tàng. Bảo tàng cũng cần tổ chức đánh giá hiệu quả các buổi thăm quan, các buổi học để ghi nhận ý kiến phản hồi từ giáo viên và học sinh, từ đó sẽ xây dựng những chương trình tiếp theo tốt hơn. Bảo tàng cần phải thường xuyên liên lạc với nhà trường, với giáo viên phụ trách lớp để phối hợp tổ chức những chương trình, hoạt động trong thời gian sắp đến. Một trong những xu hướng hiện nay của các bảo tàng trên thế giới là xây dựng chương trình tham quan nhiều buổi, gọi là multi-visit, ở mỗi một buổi học, học sinh được tiếp cận với một chủ đề nhỏ. Vì thế giữa bảo tàng và nhà trường phải liên lạc chặt chẽ với nhau, để tiến hành chương trình “chuỗi các buổi tham quan” này. Đây cũng là hình thức tham quan Bảo tàng Điêu khắc Chăm đang hướng đến để tạo điều kiện cho học sinh được đến bảo tàng nhiều lần hơn, và tìm hiểu được nhiều chủ đề về văn hóa - nghệ thuật Chăm hơn.
Việc biên soạn tài liệu giảng dạy dùng cho giáo viên và học sinh có thể được xem là nền tảng cho việc tổ chức các chương trình giáo dục. Nội dung các bộ tài liệu phải được xây dựng dựa trên bộ sưu tập của bảo tàng, nội dung chương trình giảng dạy ở trường, độ tuổi học sinh cũng như các chuẩn kiến thức mà nhà trường và bộ giáo dục quy định. Nếu được tổ chức tốt, các buổi học tại bảo tàng hỗ trợ củng cố chương trình giảng dạy ở trường. Lịch sử và Mỹ thuật là hai phân môn mà bảo tàng có thể kết nối đưa vào giảng dạy tại bảo tàng trên cơ sở sử dụng hiện vật được trưng bày tại bảo tàng. Tuy nhiên, các phân môn khác như Ngữ văn, Địa lý, Âm nhạc, Công nghệ, Giáo dục công dân, Tôn giáo, Triết học cũng có thể được khai thác đưa vào các chương trình giảng dạy. Các hiện vật ở bảo tàng có thể được ứng dụng cho việc giảng dạy tích hợp nhiều môn học khác nhau, vì vậy nếu các bộ tài liệu giảng dạy được xây dựng dựa trên chương trình giảng dạy tại trường học thì tính ứng dụng sẽ cao hơn, sát với thực tế hơn và được sử dụng rộng rãi hơn.
Tuy nhiên, việc xây dựng các bộ tài liệu dùng cho giáo viên và học sinh tại bảo tàng đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa bảo tàng và nhà trường. Trong quá trình biên soạn tài liệu, nhân viên giáo dục bảo tàng cần phối hợp với giáo viên đứng lớp hoặc giáo viên bộ môn để có thể nắm bắt rõ hơn về chương trình giảng dạy tại trường và độ tuổi tâm lý học sinh. Chương trình giảng dạy có thể thay đổi theo từng năm học, và chỉ giáo viên phụ trách bộ môn tại trường mới có thể nắm bắt sự thay đổi này và góp ý, tư vấn cho nhân viên giáo dục bảo tàng để có những điều chỉnh hợp lý cho nội dung tài liệu được biên soạn. Một số khảo sát được thực hiện ở Hoa Kì cũng chỉ ra rằng nếu các bảo tàng cùng phối hợp với giáo viên trường học biên soạn tài liệu giảng dạy dùng trong bảo tàng thì các giáo viên trường học sẽ sử dụng các bộ tài liệu này nhiều hơn, bởi họ đã được tiếp xúc, làm quen với nội dung của tài liệu và họ biết cách kết nối nội dung các tài liệu vào nội dung bài giảng ở trường, hoặc biết khai thác các bộ tài liệu để tổ chức các hoạt động cho học sinh tại bảo tàng. Nhận xét về mối liên kết giữa nhà trường và bảo tàng trong việc xây dựng tài liệu giảng dạy cho giáo viên và học sinh tại bảo tàng, Beverly Sheppard cho rằng các giáo viên ở trường là những người hiểu rõ cách học, khả năng, sở thích nhu cầu của học sinh. Trong khi đó các nhân viên bảo tàng lại hiểu biết tường tận về các bộ sưu tập của mình, ý nghĩa của hiện vật cũng như bản chất của phương pháp Học dựa trên hiện vật (Object-based learning). Bởi vậy hai lực lượng này cần phải phối hợp với nhau để đảm bảo sự thành công của các chương trình giáo dục.
Một số chương trình giáo dục thành công
Các lớp học xây dựng cho khối học sinh tiểu học tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm hiện đang được xây dựng và một số đã đi vào hoạt động dựa trên sự thay đổi về cách tiếp cận và phương pháp tổ chức đã nêu ở trên. Chủ đề chung của các lớp học dành cho bậc tiểu học là “Con vật linh yêu thích của bạn là gì?” Hiện nay, bảo tàng chia đối tượng học sinh tiểu học thành hai nhóm tuổi: nhóm 6-8 (tương đương với khối lớp 1, 2, 3) và nhóm 9-10 (tương đương với khối lớp 4, 5). 

Hiện tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm đang thiếu một đội ngũ cán bộ được đào tạo phương pháp và kĩ năng tổ chức chương trình giáo dục. Để khắc phục thực trạng thiếu nhân sự hỗ trợ trong công tác giáo dục - truyền thông, bảo tàng tổ chức chương trình tình nguyện viên dành cho sinh viên trên địa bàn thành phố. Sau đợt tuyển dụng thứ nhất, 10 sinh viên Khoa Kinh tế Du lịch thuộc Đại học Kinh tế Đà Nẵng đang tham gia câu lạc bộ tình nguyện viên tại bảo tàng. Được trang bị lượng kiến thức cơ bản về văn hóa và nghệ thuật điêu khắc Champa và những kĩ năng hướng dẫn du khách cũng như kĩ năng làm việc với học sinh tiểu học, các thành viên của câu lạc bộ đã thực hiện tốt vai trò của mình ở vị trí hướng dẫn viên tình nguyện của bảo tàng và quan trọng hơn là các thành viên đã tham gia rất tích cực vào các chương trình giáo dục do bảo tàng tổ chức. Ở các buổi học, các tình nguyện viên là những người giám sát và người chỉ dẫn các nhóm học sinh thực hiện các thao tác, trò chơi trên phiếu hoạt động. Trong thời gian đến, bảo tàng sẽ tiếp tục phát triển câu lạc bộ tình nguyện viên hướng đến đối tượng là sinh viên Khoa Anh và Pháp văn của Trường Đại học Ngoại ngữ Đà Nẵng, sinh viên Khoa Du lịch của Trường Đại học Kinh tế và Đại học Duy Tân. Tham gia câu lạc bộ tình nguyện viên, các sinh viên có thể nâng cao kiến thức của mình về văn hóa – nghệ thuật và kiến trúc Champa; đồng thời sinh viên được đào tạo các kĩ năng và nghiệp vụ du lịch cần thiết cho công việc lữ hành trong tương lai. Nhưng trên hết, thông qua chương trình tình nguyện viên bảo tàng đã và đang tạo điều kiện cho công chúng địa phương tham gia trực tiếp vào các hoạt động mang tính giáo dục của bảo tàng, để từ đó nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ về việc gìn giữ và phát huy các di sản văn hóa của dân tộc Chăm nói riêng và nhân loại nói chung.

Lời kết
Xây dựng nhiều chương trình giáo dục - công chúng để phục vụ và thu hút các cộng đồng địa phương đến với bảo tàng, thực hiện công tác xã hội hóa bảo tàng là trọng tâm hoạt động của hầu hết các bảo tàng ngày nay. Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng đã và đang nỗ lực để mang bộ sưu tập hiện vật và các dịch vụ của mình đến gần công chúng hơn. Bên cạnh các trưng bày cố định, bảo tàng xây dựng nhiều triển lãm chuyên đề, tổ chức các buổi tọa đàm, thảo luận, biểu diễn nghệ thuật… để phục vụ khách quốc tế và khách địa phương. Tuy nhiên việc nâng cao ý thức của công chúng về việc gìn giữ, phát huy giá trị di sản, xây dựng cho người dân địa phương “thói quen đi bảo tàng” phải bắt đầu từ công tác giáo dục. Vì thế, trọng tâm của công tác giáo dục ở Bảo tàng Điêu khắc Chăm trong giai đoạn hiện nay là tổ chức các lớp học cho học sinh tiểu học tại bảo tàng. Bảo tàng đã phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc xây dựng nội dung các bài giảng và tài liệu học tập để đảm bảo chương trình tham quan học tập tại bảo tàng phải nối kết với chương trình giảng dạy tại trường học, và các hoạt động cũng như học liệu mang tính trực quan, sinh động cao, phù hợp với độ tuổi tâm lý và tầm nhận thức của học sinh. Trong giai đoạn thử nghiệm, bảo tàng tập trung vào khu vực quận Hải Châu của thành phố Đà Nẵng, và sau đó sẽ phát triển dần ra cho mạng lưới các trường tiểu học trên địa bàn thành phố. Mặc dù có những khó khăn ban đầu, nhưng bảo tàng hy vọng chương trình này sẽ mang lại những thay đổi đáng kể trong công tác giáo dục - truyền thông của bảo tàng và nhà trường cũng như học sinh nhận thấy sự gắn kết thực tế giữa bảo tàng và nhà trường. Các em học sinh đến bảo tàng để được chơi và được học, được thể hiện mình và được đào tạo những kĩ năng sống cần thiết khác bên cạnh việc lĩnh hội và thưởng thức giá trị thẩm mỹ và văn hóa từ bộ sưu tập điêu khắc Champa.

ThS Nguyễn Hoàng Hương Duyên

Bảo tàng Điêu khắc Chăm, Đà Nẵng

Các bài viết khác...

Tin đưa ngày

You must have Flash Player installed in order to see this player.

Tạp chí Thế giới Di sản

Bia-Tet

dantochoc
bt_hochiminh
Trang chủ Hội thảo - Đào tạo Hội thảo Bảo tàng Điêu khắc Chăm, Đà Nẵng - Thay đổi cách tiếp cận và phương pháp thực hiện chương trình giáo dục trong nỗ lực gắn kết cộng đồng
Về Đầu Trang